Đặc sản Cà Mau 6996 - Hương vị Đất Mũi

Các nghề truyền thống ở Cà Mau

Top 3 các nghề truyền thống ở Cà Mau

Để hiểu hơn về con người vùng sông nước Đất Mũi, hãy cùng Đặc sản Cà Mau 6996 tìm hiểu các nghề truyền thống ở Cà Mau nhé!

Nghề đáy hàng khơi 1 trong những nghề truyền thống ở Cà Mau

Ngoài nghề đáy sông (hàng đáy đóng trên các dòng sông, kênh rạch), tỉnh Cà Mau còn có nghề đáy hàng khơi. Nghề này đã có truyền thống từ lâu đời và gắn bó với ngư dân miền biển ở Cà Mau.
Bình minh trên biển. Ảnh: Huỳnh Kim Hải.

Đáy hàng khơi tức là những hàng đáy được đóng giữa biển khơi. Nghề này  đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển nghề khai thác biển của ngư dân Cà Mau. Ban đầu, chỉ một vài hộ ngư dân ở cửa biển Rạch Tàu, Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển đóng đáy hàng khơi. Về sau thấy có hiệu quả, thu nhập tương đối cao nên nhiều hộ ngư dân trong vùng làm theo. Đến nay, trong toàn tỉnh Cà Mau có hàng nghìn miệng đáy hàng khơi lớn nhỏ. Trong đó, phát triển mạnh nhất ở các làng cá ven biển như Cái Đôi Vàm (huyện Phú Tân); Rạch Tàu, Rạch Gốc (huyện Ngọc Hiển).

Thông thường, đáy hàng khơi được ngư dân đóng cách đất liền từ 10 đến 15 hải lý (khoảng từ 18 đến 25 km). Đáy hàng khơi được dùng những cây to, thẳng (thường là cây kè), có chiều dài khoảng 30 mét, rồi cắm sâu xuống đáy biển để làm trụ đáy. Mỗi miệng đáy rộng khoảng 50 m, được ráp từ lưới gân, ni long, có mắt nhỏ. Miệng đáy dài, đuôi thắt lại như hình chóp và được cột cố định vào những trụ đáy. Khi đổ đục (thu hoạch tôm, cá), bạn chòi (người làm công đóng đáy, canh giữ) chỉ việc kéo miệng đáy lên, mở dây, đổ đục cho tôm, cá vào thuyền.

Người “thợ” đóng đáy hàng khơi phải có kinh nghiệm, hiểu biết về nghề biển. Đồng thời, phải biết xác định hướng gió, dòng chảy của biển và đặc biệt phải biết đâu là lạch biển, nơi nào có nhiều cá, tôm… Theo nhiều ngư dân, đáy hàng khơi được đóng theo các lạch biển, nơi có độ sâu trên dưới 12 sải nước theo cách tính của ngư dân (tức từ 20 đến 25 m). Mỗi hộ ngư dân làm nghề đáy hàng khơi có bình quân từ 10 đến 30 miệng đáy (tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, vốn đầu tư…).

Trên các đáy hàng khơi đều có chòi canh, mỗi chòi rộng hơn 1 m2 và có 2 – 3 ngư dân (còn được gọi là bạn chòi) ở cùng nhau để đóng đáy, thu hoạch, quản lý, bảo vệ  đáy hàng khơi. Từ xa, những chòi canh nhìn như những tổ chim lơ lửng trên biển. Người bạn chòi phải là người rành nghề đi biển, gan dạ, biết bơi lội giỏi, biết trông con nước để quyết định đóng đáy hoặc đổ đục (thả lưới, kéo lưới, thu hoạch cá tôm). Giữa các chòi thường cách nhau hàng trăm mét và được liên kết với nhau bằng hệ thống dây thừng để phơi đáy. Hệ thống dây thừng này cũng chính là nơi nghỉ ngơi, là “mạng lưới giao thông” để giúp cho bạn chòi đi lại trên biển. Do đặc thù của nghề, hầu hết bạn chòi trước khi ngủ thường mang theo bên mình con dao sắc bén để khi lỡ chợt chân rơi xuống biển, bị cuốn trôi vào đáy thì có phương tiện để rọc lưới, thoát thân. Đồng thời, cột theo bên mình cái can nhựa loại lớn để phòng khi bị rơi xuống biển còn có “phao cứu sinh”.

Đáy hàng khơi đóng được quanh năm, không kể mùa, kể tháng. Mỗi tháng đóng được 2 con nước (nước rằm và nước 30) trên dưới 15 ngày. Công việc của người bạn chòi thật khó khăn, vất vả gần như “cách ly hoàn thoàn” với xã hội. Ngày nào cũng vậy, nhất là khi vào con nước hết giặt đáy, phơi đáy rồi lại canh con nước để thả đáy, kéo đáy, đổ đục thu hoạch cá tôm. Sản phẩm thu được chủ yếu là các loại hải sản như tôm sắt, tôm tích, mực ống, mực nan, mực tua, cá khoai cùng nhiều loại cá biển khác. Sản phẩm này  được chủ đáy chở vào bờ bán cho các chủ vựa và chia phần cho các bạn chòi.

Theo quy ước chung của nghề đáy hàng khơi, bạn chòi không có lương mà được chủ cho hưởng trọn 1 trong 7 hoặc 1 trong 5 miệng đáy để có thu nhập thay lương. Tuy nhiên, bạn chòi làm nghề đáy hàng khơi là những người phải biết đi biển, quen với biển, có điều kiện lưu lại dài ngày ngoài biển khơi, chịu được sóng to, gió lớn và đôi khi là bão tố. Nghề bạn chòi có khi phải đánh cược cả mạng sống của mình với biển cả.

Nghề nuôi tôm

Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, tỉnh Cà Mau có khoảng 255 km bờ biển và được chạy từ đông sang tây. Chính điều kiện tự nhiên này đã tạo cho Cà Mau có một ngư trường rộng lớn và một vùng đất ngập mặn ven biển màu mỡ, rất thích hợp cho nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là con tôm sú. Cũng từ đây, vùng Đất Mũi Cà Mau được mệnh danh là “mỏ tôm” của cả nước.

Mô hình nuôi tôm quảng canh truyền thống. Ảnh: Huỳnh Lâm.

 

Sự trù phú của vùng đất ven biển này đã đưa biết bao nhiêu mảnh đời cơ cực của nông dân trở thành triệu phú rồi tỷ phú từ nghề nuôi tôm. Lúc đầu (những năm sau giải phóng), nông dân Cà Mau chỉ biết nuôi tôm theo phương pháp quảng canh truyền thống. Bằng cách bao ví ấu trùng tôm từ các sông rạch vào vuông nuôi rồi chờ cho đến ngày tôm lớn để thu hoạch. Thời ấy, tôm giống trong thiên nhiên còn nhiều nên tôm nuôi đạt năng suất, sản lượng rất cao. Nhiều hộ nông dân, mỗi nước xổ tôm thu hoạch đến vài tấn. Sản phẩm thu được chủ yếu là tôm đất, tôm bạc và tôm xà búi (tôm thẻ đuôi đỏ). Tôm thu hoạch được ít người mua, phần lớn chỉ để ăn hoặc luộc để làm tôm khô nhưng giá thành lại không cao.

Những năm đầu giải phóng, sau mỗi nước xổ, phần lớn nông dân phải đựng tôm trong cần xé và chỉ luộc để làm tôm khô. Ảnh: Huỳnh Lâm.

 

Lâu dần, nguồn tôm giống trong thiên nhiên bị cạn kiệt và nghề nuôi tôm của bà con nông dân trong tỉnh Cà Mau cũng dần chuyển sang theo phương pháp quảng canh cải tiến, bán công nghiệp và công nghiệp. Trước giá trị ngày càng cao của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, đặc biệt là con tôm sú, nghề nuôi tôm ở Cà Mau phát triển ngày càng mạnh. Năm 1994, trước “sức ép” của con tôm, tỉnh Cà Mau phải chuyển toàn bộ diện tích đất trồng lúa ở các xã phía đông huyện Đầm Dơi vào nuôi tôm. Đến năm 1999, Chính phủ cho phép chuyển gần 50.000 ha đất trồng lúa ở các huyện Đầm Dơi, Cái Nước và một số vùng lân cận sang nuôi tôm. Đến cuối năm 2014, diện tích đất nuôi tôm trong tỉnh Cà Mau đạt gần 270.000 ha và tổng sản lượng tôm nuôi đạt gần 164.000 tấn.

Mô hình nuôi tôm công nghiệp. Ảnh: Diễm Phương.

 

Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm bước đầu gặp nhiều khó khăn, trở ngại như thời tiết diễn biến bất lợi, môi trường nước luôn bị biến động; tình trạng tôm chết kéo dài; hệ thống kênh mương chưa đảm bảo; trình độ, kinh nghiệm sản xuất của nông dân còn thấp… Tuy nhiên, những kết quả thu được từ nghề nuôi tôm của nông dân đều đạt cao hơn so với trồng lúa. Nhiều hộ nông dân trong vùng chuyển dịch có mức thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu đồng mỗi năm. Cá biệt, có nhiều hộ nuôi tôm có mức thu nhập đến 3 – 4 tỉ đồng/năm.

 

 

Những vùng đất “cầm trâu” chỉ có đồng năn và cỏ dại ở Tân Phú, Biển Bạch; vùng đất bị nhiễm phèn mặn nằm dọc theo sông Trẹm (huyện Thới Bình), kinh xáng Minh Hà (huyện Trần Văn Thời) và một số vùng sâu trũng, rất bấp bênh cho nghề trồng lúa ở khu vực huyện U Minh, Phú Tân, Cái Nước cũng được nông dân cải tạo rồi dẫn nước mặn về đồng để nuôi tôm và đạt năng suất, sản lượng cao.
Trên phần lớn diện tích rừng ngập mặn Cà Mau cũng được chủ rừng (các Lâm – ngư trường, Ban quản lý rừng, Công ty lâm nghiệp) giao khoán cho nông dân để sản xuất theo mô hình rừng – tôm kết hợp, nuôi tôm sinh thái. Chính mô hình này đã tạo bước đột phá trong việc cải thiện cuộc sống, tăng thu nhập cho người dân nhận đất, nhận rừng và là yếu tố quan trọng để người dân bám đất giữ rừng.

Phần lớn diện tích đất nuôi tôm công nghiệp đạt năng suất, sản lượng cao. Ảnh: Ngọc Thu.

 

Những năm gần đây, tại nhiều vùng nuôi tôm quảng canh trong tỉnh, Cà Mau triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất tôm – lúa tỉnh Cà Mau” giai đoạn 2009 – 2012, định hướng đến năm 2015 (gọi tắt là Đề án tôm – lúa). Bước đầu thực hiện đề án, năng suất, chất lượng tôm – lúa, trình độ chuyên môn của cán bộ kỹ thuật cấp cơ sở và kỹ năng tổ chức sản xuất của nông dân đã được nâng lên. Nhiều vùng nuôi tôm kết hợp trồng lúa tình trạng ô nhiễm môi trường nước đã được cải thiện, khắc phục được tình trạng tôm nuôi bị chết kéo dài.

Ở những nơi có điều kiện, tỉnh Cà Mau vận động, khuyến khích bà con nông dân và các thành phần kinh tế khác đầu tư vốn để mở rộng quy mô sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại. Trong đó, tập trung phát triển các mô hình nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp có năng suất, sản lượng cao. Nếu như những năm đầu nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chỉ có một vài điểm trình diễn để bán thức ăn tôm của Tập đoàn CP Thái Lan, Nông trường Gành Hào thì đến nay trên địa bàn tỉnh đã có trên 8.000 ha đất nuôi tôm công nghiệp. Tập trung nhiều ở các huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Cái Nước và Phú Tân.

Tôm thẻ chân trắng là một trong những đối tượng nuôi công nghiệp của nông dân Cà Mau. Ảnh: Diễm Phương.

Hiệu quả từ mô hình nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp là người nuôi tôm có thể nâng cao, năng suất sản lượng trên cùng một diện tích đất sản xuất. Đồng thời, quản lý, cải tạo được nguồn nước và có thể cách ly được dịch bệnh. Nuôi tôm công nghiệp không chỉ đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi mà nó còn góp phần tạo ra một sản lượng lớn nguyên liệu có chất lượng cao, phục vụ cho việc chế biến và xuất khẩu thủy sản của tỉnh.

Nghề nuôi tôm đã trở thành mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Ảnh: Huỳnh Lâm.

Tỉnh Cà Mau hiện đang đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật cho nông dân để thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất tôm – lúa, tôm – rừng kết hợp. Tập trung thực hiện mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến, nhân rộng các mô hình nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm kết kết hợp các loài thủy sản khác như cá, cua, sò huyết…Ưu tiên phát triển nghề nuôi tôm công nghiệp theo quy hoạch gắn với đầu tư xây dựng lưới điện, giao thông, thủy lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Tiếp tục đưa nghề nuôi tôm ở Cà Mau dẫn đầu trong cả nước về diện tích, năng suất, sản lượn

Nghề làm khô cá bổi

Nghề làm khô cá bổi ở tỉnh Cà Mau có truyền thống từ lâu đời. Trong đó, tập trung chủ yếu ở làng nghề khô cá bổi huyện Trần Văn Thời. Đây là vùng quê nổi tiếng về nguồn lợi cá đồng, nơi bác Ba Phi – Người được truy tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và có tài kể chuyện tếu lâm – đến khai cơ, lập nghiệp. Có nhiều câu chuyện kể về cá đồng của bác Ba Phi còn lưu truyền cho đến ngày nay. Ngoài sản phẩm cá tươi bán cho thương lái, nông dân huyện Trần Văn Thời còn làm mắm, cá khô, đặc biệt là khô cá bổi để bán được giá cao hơn hoặc giữ lại để ăn lâu ngày hay làm quà biếu cho bà con ở xa.
Xếp cá bổi trước khi phơi nắng. Ảnh: Ngọc Hân.

Đến mùa thu hoạch cá đồng, bà con nông dân huyện Trần Văn Thời lựa cá bổi lớn (khoảng 4 – 5 con/kg trở lên) còn gọi là “cá bổi phệt” để làm khô. Còn cá nhỏ hơn thả lại nuôi làm giống cho mùa sau. Vào mùa thu hoạch, cá bổi đổ thành đống như  đống lúa. Trước khi tát hoặc chụp đìa, chủ nhà phải huy động lực lượng theo kiểu “vần công” (kể cả thanh niên, phụ nữ, người già, trẻ em) trong xóm, ấp đến phụ giúp làm cá khô.

Ngày trước, người dân vùng nông thôn còn nghèo khó, thiếu thốn đủ bề nên khi được hàng xóm “vần công” hoặc nhờ đến phụ giúp làm cá khô bổi, làm cá tát đìa đều rất mừng. Vì khi làm cá xong, người làm cá được chủ nhà cho ruột và đầu cá bổi để đem nấu lấy dầu. Dầu cá bổi dùng để chiên bánh; chiên, xào thức ăn trong gia đình hàng ngày. Thời xa xưa, nhiều hộ dân ở vùng nông thôn Cà Mau còn dùng dầu cá để đốt đèn, thắp sáng khi màn đêm buông xuống.
Làng nghề khô cá bổi, huyện Trần Văn Thời. Ảnh: Huỳnh Lâm.

Để làm được sản phẩm khô bổi để dành ăn được lâu ngày, đạt chất lượng và có giá thành cao thì người làm khô phải có tay nghề, có kinh nghiệm. Thông thường, cá bổi tươi được dùng dao “đánh” (cạo) sạch vẩy, cắt mang và mổ bụng tách ruột ra, còn kỳ, vi, râu, mỏ và đuôi cá giữ nguyên. Sau đó cá được cho vào giỏ tre đem rửa sạch, rồi cho vào xoong, thau hoặc thúng hay cà vung (một dụng cụ được chầm bằng lá dừa nước để đựng đồ, tựa như những chiếc thùng nhựa để cho ráo nước. Sau đó, cho cá vào lu, khạp da bò hay còn gọi là (khạp tương), mỗi lớp cá rãi lên một lớp muối hột để ướp. Cứ làm như thế đến khi nào cá đầy lu, đầy khạp thì cho vào lu, khạp khác. Tùy vào khẩu vị của mỗi gia đình mà người ta ướp muối vào cá nhiều hoặc ít. Thông thường thì cá khô bổi được ướp nhiều muối cho cá thấm muối mặn. Vì cá muối mặn sau khi phơi khô, cá lưu giữ được lâu. Còn ướp muối ít, cá lạc ăn ngon hơn cá mặn, nhưng để lâu ngày dễ bị hôi dầu. Thường thì ướp muối vào cá hôm trước, sáng hôm sau trời có nắng là đem cá ra phơi.

Dụng cụ phơi cá được làm bằng những tấm đăng sậy, lót trên những chiếc giàn cao. Để có những tấm đăng sậy, sau khi đốn sậy về, tách hết “áo” (vỏ bao theo nách sậy), dùng dây choại hoặc bẹ chuối khô bện lại thành từng tấm, với chiều ngang khoảng 1m đến 1,5 m (tùy theo sậy dài hay ngắn), chiều dài khoảng 2,5 m hoặc 3 m. Khi bện xong, dùng nẹp tre hoặc trúc cặp nẹp lại thành một tấm vĩ. Sau đó, dùng cây cắm trụ làm giàn cao khoảng 1m, rồi lót từng tấm vĩ lên giàn. Như thế là đã có được giàn để phơi cá khô bổi. Hiện nay, tấm vĩ bằng sậy được nhiều hộ nông dân ở làng nghề làm khô cá bổi huyện Trần Văn Thời thay bằng tấm manh mê bồ, bằng lưới dây gân hoặc lưới ni lông cho gọn, nhẹ và bền đẹp hơn.
Cá bổi sau khi muối được đưa vào lò sấy. Ảnh: Ngọc Hân.

Khi thời tiết nắng tốt, cá bổi phơi khoảng 2 đến 3 nắng là đã khô. Khô bổi được cân cho thương lái hoặc cho vào bao chỉ xanh (còn gọi là bao “bố tời”) hay cà vung, cần xé để dành trên giàn bếp hoặc ủ trong bồ lúa, khoảng 02 đến 03 tháng sau, nhất là mùa làm đồng, thiếu thốn thức ăn đem ra sử dụng. Ngày nay, người dân làng nghề khô cá bổi ở huyện Trần Văn Thời đã sử dụng lò sấy làm cho cá bổi mau khô khi trời không nắng.

Nhiều gia đình ở huyện Trần Văn Thời khá, giàu nhờ nghề làm khô cá bổi. Điển hình như những hộ dân ở kênh Cơi 5, xã Khánh Bình Tây; ấp 3, xã Trần Hợi và khóm 7, thị trấn Trần Văn Thời…

Hiện nay, tỉnh Cà Mau đã có thương hiệu “Khô cá bổi U Minh”, nhiều nơi ở trong nước đã biết đến thương hiệu và chất lượng của “Khô cá bổi U Minh”. Đây là điều kiện thuận lợi, tạo động lực cho người nông dân ở huyện Trần Văn Thời giữ vững và tiếp tục phát triển nghề làm cá khô bổi vốn có truyền thống từ lâu đời.
 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0942396996
Liên hệ